Bds161's Blog

Việt Nam trước những thách thức về bất ổn vĩ mô

Posted on: Tháng Năm 18, 2011

(Tamnhin.net) – Thách thức về bất ổn vĩ mô tiềm tàng cho thấy Việt Nam đang đứng trước ” ngã ba đường”, với những quyết sách quan trọng liên quan đến cơ hội và quyết tâm tiếp tục cải cách kinh tế-xã hội, thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế… để tạo ra những động lực mới cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội một cách vững chắc trong trung và dài hạn.

Nhận định này được đưa ra trong Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011 do Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách, Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Bộ Phát triển Quốc tế Anh công bố ngày 17/5, tại Hà Nội.

Báo cáo năm nay được hoàn thành trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chứng kiến nhiều biến động kinh tế-xã hội-chính trị phức tạp sau giai đoạn 2 năm suy thoái nghiêm trọng (2008-2009). Cùng với những diễn biến đó, nền kinh tế Việt Nam năm 2011 đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới sau một thập niên tăng trưởng dựa nhiều vào lượng.

Theo báo cáo, mặc dù năm 2010 kinh tế Việt Nam đã tiếp đà hồi phục năm 2009 và tăng trưởng khá cao nhưng trước mắt đang đối mặt với những bất ổn vĩ mô tiềm tàng, như lạm phát tăng cao, thâm hụt ngân sách, nợ công tiếp tục tích lũy, thâm hụt thương mại chưa được cải thiện, cải cách doanh nghiệp nhà nước còn nhiều vấn đề…

Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh, năm 2011 “Ở vào thế bất lợi hơn năm 2008, cho dù 2008 là năm chịu ảnh hưởng lớn nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như những khó khăn kinh tế bắt nguồn từ trong nước”. Lý do là vì năm 2008, ngân sách chưa bị thâm hụt quá sâu nên chính sách tài khóa còn có thể khá linh hoạt trong việc thay đổi mức độ thu – chi hoặc lạm phát lúc đó cũng tăng cao, nhưng lãi suất lúc đó chưa cao và khả năng tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát còn có thể chập nhận được…

Theo TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Kiêm kinh tế trưởng Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), Đại học Quốc gia Hà Nội thì vào cuối tháng 2 vừa qua, Chính phủ đã có Nghị quyết 11 nhằm ổn định kinh tế vĩ mô trong đó có việc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt. Mức tăng trưởng tín dụng dưới 20% là hợp lý.

TS. Nguyễn Đức Thành nhận định, đối với chính sách tài khóa cũng cần có thắt chặt một cách kiên quyết, nhưng trên cơ sở tính toán đến khả năng tăng trưởng dài hạn. Việc cắt giảm chi đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước cần phải được thực hiện đồng thời với việc đa dạng hóa hay xã hội hóa các khoản đầu tư xây dựng cơ bản như các hình thức đầu tư theo dạng BOT, BT… hay đầu tư hợp tác công tư (PPP) để đảm bảo nguồn lực xã hội cho đầu tư cơ sở hạ tầng. Không thể cắt giảm chi đầu tư phát triển một cách tràn lan vì như vậy sẽ ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng trong dài hạn…

Báo cáo cho rằng, để ổn định kinh tế, ưu tiên hàng đầu của Chính phủ là thắt chặt chính sách tiền tệ một cách kiên quyết và kiên nhẫn. Chính sách tài khóa cũng cần thắt chặt, nhưng trên cơ sở tính toán đến khả năng tăng trưởng dài hạn.

Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, nhiều khả năng nợ công Việt Nam sẽ tạm thời chững lại trong năm 2011, nhưng những năm tiếp theo sẽ tăng dần đều tới mức 64% GDP vào năm 2015 và 80% GDP vào năm 2020. Kịch bản này đòi hỏi Chính phủ phải đưa dần thâm hụt ngân sách tổng thể từ 7,7% trong năm 2009 xuống còn 4,3% trong năm 2011; 3,1% trong năm 2015 và 2,8% GDP trong năm 2020. Mặc dù khẳng định khả năng thanh toán và thanh khoản của nợ công nước ta vẫn trong ngưỡng an toàn, song cục diện chung tiềm ẩn nhiều dấu hiệu cần hết sức thận trọng.

Ngoài những đánh giá về thực trạng nền kinh tế trong suốt năm 2010 đến nay, một trong những nội dung đáng chú ý của báo cáo là VEPR đã đưa ra hai kịch bản cho kinh tế Việt Nam trong năm 2011.

Theo đó, kịch bản thứ nhất ứng với việc nền kinh tế sẽ diễn tiến trong bối cảnh chính sách tiền tệ được thắt chặt một cách kiên nhẫn (có thể kéo dài đến hết năm), đi liền với cắt giảm chi đầu tư công một cách nghiêm khắc.

Dự báo của VEPR cho thấy, ngay cả với kịch bản này, lạm phát vẫn có thể cao tới mức 15,5%, trong khi tăng trưởng đạt khoảng 6,2%. Việc lạm phát hay mức giá chung năm nay tăng cao khá nhiều so với dự kiến trong năm trước và các tiêu do Quốc hội và Chính phủ đề ra, bắt nguồn từ sự điều chỉnh lớn trong giá các mặt hàng thiết yếu và nguyên liệu đầu vào, cũng như đà tăng giá sau khi nới lỏng các biện pháp hành chính áp dụng trong nhiều năm trước.

Như vậy, chỉ trong trường hợp giá nguyên liệu thô trên thế giới giảm mạnh, thì mới mong lạm phát giảm nhiều hơn vào cuối năm, từ đó giúp kìm đà tăng giá của cả năm.

Đối với kịch bản thứ hai, mức lạm phát có thể cao hơn, khoảng trên 18% nếu Chính phủ không đủ quyết liệt trong việc chống lạm phát và bình ổn vĩ mô. Động thái này hoàn toàn có thể xảy ra như kinh nghiệm những năm trước, khi chúng ta chứng kiến sự nới lỏng tiền tệ thường xảy ra vào quý 3, dưới sức ép của khu vực doanh nghiệp hoặc sự thiếu kiên nhẫn trong thắt chặt tiền tệ.

Mặc dù việc nới lỏng giúp tăng trưởng cao hơn một chút, khoảng hơn 6,5%, nhưng so với các năm trước, hiệu ứng tăng trưởng không còn đáng kể vì sự bất ổn trong năm 2011 đã trực tiếp tác động đến chất lượng tăng trưởng.

Đồng thời, cần phải lưu ý rằng mức lạm phát cao như trong kịch bản này rất hàm chứa những rủi ro vĩ mô lớn và khả năng lạm phát vượt khỏi khả năng kiểm soát là rất cao.

Xét trong bối cảnh dài hạn hơn, dựa trên những kết quả được công bố công khai, VEPR đưa ra những lưu ý về những điểm chung căn bản mà nền kinh tế cần phải lưu ý trong những năm sắp tới.

Thứ nhất, mô hình tăng trưởng dựa trên sự mở rộng đầu tư, đồng thời dựa nhiều vào khu vực kinh tế quốc doanh không đem lại chất lượng tăng trưởng cao. Hiệu quả đầu tư giảm nhanh chóng, do đó, để duy trì một tỷ lệ tăng trưởng như cũ ngày càng phải mở rộng quy mô đầu tư.

Và kết quả là khoảng cách tiết kiệm – đầu tư ngày càng xa cách, tạo ra những mất cân đối vĩ mô lớn, thể hiện qua thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai. Những mất cân đối này trực tiếp gây áp lực lên các biến kinh tế vĩ mô quan trọng như lạm phát, tỷ giá, lãi suất…

Thứ hai, kinh nghiệm và bài học của Vinashin và gần đây là EVN, Petro Vietnam cho thấy, việc giám sát và kiểm soát tài chính các tập đoàn kinh tế nhà nước lớn hầu như không có hiệu lực. Chỉ khi các vấn đề tài chính nghiêm trọng bộc lộ thì cơ quan chức năng và công luận mới được biết một phần thông tin.

Và khi đó, Chính phủ và người dân chủ yếu phải chấp nhận những rủi ro kinh tế và tài chính do sự quản lý yếu kém và thiếu minh bạch.

Theo TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc VEPR, trong bất kỳ tình huống nào, xã hội cũng phải gánh chịu những hậu quả của những rủi ro này thông qua những diễn biến bất lợi của nền kinh tế.

Ngoài ra, các nguyên tắc trong điều hành chính sách cần được xây dựng nhằm tạo một môi trường chính sách chủ động, nhất quán và đồng bộ hơn. Các phân tích về lạm phát, lãi suất đều cho thấy các chính sách vĩ mô để bình ổn nền kinh tế đều mang tính thụ động.

Chẳng hạn, chính sách tiền tệ thắt chặt chủ yếu đi sau lạm phát hoặc chính sách lãi suất chủ yếu được thực hiện nhằm làm cho lãi suất phù hợp hơn với mức lạm phát cao, thay vì mang tính chủ động để kiềm chế lạm phát.

Theo VEPR, sự thiếu chủ động trong chính sách có tác hại không khác nhiều so với sự sai lầm về chính sách và đều có thể tích lũy những rủi ro cho nền kinh tế.

Minh Giang

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mục tiêu

Trở thành tỷ phú từ đầu tư bất động sản.

calendar

Tháng Năm 2011
M T W T F S S
« Apr   Jun »
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  

Blog Stats

  • 694,091 lượt truy cập

Thống kê chi tiết từ 26/5/2010

%d bloggers like this: